Đề kiểm tra giữa kì 1 môn Ngữ văn 7

PHÒNG GD&ĐT....

TRƯỜNG THCS...

___________

ĐỀ CHÍNH THỨC – ĐỀ A

 

ĐỀ KIỂM TRA GIỮA KÌ I

NĂM HỌC 2022 – 2023

Môn: Ngữ văn 7

Thời gian làm bài: 90 phút (không kể thời gian phát đề)

Đề gồm có 02 trang

PHẦN I: PHẦN ĐỌC (6.0 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Thầy giáo dạy vẽ của tôi

Tôi muốn kể với các em về thầy giáo dạy vẽ của tôi. Thầy dạy chúng tôi cách đây mười bảy năm, khi đó chúng tôi mới học lớp Năm mà thầy thì mái tóc đã bạc phơ… 

[…] Thầy ăn mặc theo kiểu xưa: bộ com-lê đen đã cũ lắm, nhưng chiếc ca-vát vẫn luôn thắt chỉnh tề trên cổ. Thầy thường đội mũ nồi, bộ râu mép rậm lấm tấm bạc, đôi giày cũ và chiếc cặp da nâu cũng đã sờn rách. 

Thầy luôn đăm chiêu nhưng hiền hậu. Chẳng bao giờ thầy cáu giận, gắt gỏng với chúng tôi. Cũng chẳng bao giờ thầy bỏ một tiết lên lớp nào, kể cả những hôm thầy yếu mệt, sốt cao, giọng run run.

Đề kiểm tra giữa kì 1 Ngữ văn 7

Các cô giáo, thầy giáo trong trường kể rằng thầy là một trong những hoạ sĩ học khoá đầu tiên của Trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông Dương. Bạn học của thầy, hầu hết đều đã trở thành những hoạ sĩ tên tuổi, có người nổi tiếng cả ở nước ngoài, riêng thầy Bản chỉ là một giáo viên dạy vẽ bình thường ở một trường cấp hai. 

Thầy dạy chúng tôi kẻ chữ, vẽ cái sọt giấy, lọ mực, viên gạch, thỉnh thoảng mới có một bài “vẽ tự do”: cảnh chùa hoặc cảnh lao động ở vườn trường. Thầy dạy rất ân cần, tỉ mỉ, chỉ bảo cho chúng tôi từng li từng tí: cách tô màu, đánh bóng, cả cách gọt bút chì thế nào cho đẹp và dễ vẽ. Nhưng thú vị hơn cả là những câu chuyện của thầy. Thầy thường nói say sưa với chúng tôi về hội hoạ, về màu sắc và đường nét, về cái thế giới thứ hai, thế giới rực rỡ, kì lạ của những bức tranh, những cánh cửa mở tới những khu vườn tốt lành và đẹp đẽ. Có những lần, thầy đưa chúng tôi về nhà thầy chơi, về gian gác hẹp xếp đầy sách vở và tranh ảnh. Thầy đưa chúng tôi xem những quyển sách của các bậc danh hoạ. Thầy cũng cho chúng tôi xem những bức tranh thầy vẽ, những bức tranh nhỏ, vẽ rất tỉ mỉ những bình hoa nhiều màu, những ngôi nhà, những em bé hàng xóm… Thầy vẽ chậm, vẽ kĩ, không hiểu có đẹp không, nhưng tranh của thầy ít được mọi người chú ý. Chúng tôi có đi hỏi nhưng chẳng mấy ai biết tên hoạ sĩ Nguyễn Thừa Bản. 

(Xuân Quỳnh, Những truyện ngắn hay viết cho thiếu nhi,

NXB Kim Đồng, 2014) 

Câu 1. Truyện kể theo ngôi thứ mấy? Người kể chuyện là ai?

A. Ngôi thứ nhất, người kể xưng “tôi”.                 B. Ngôi thứ nhất, người kể là tác giả

C. Ngôi thứ ba, người kể giấu mặt.                        D. Ngôi thứ ba, người kể là Xuân Quỳnh

Câu 2. Chi tiết nào thể hiện nhận xét của nhân vật khác về thầy giáo dạy vẽ?

A. Thầy dạy chúng tôi cách đây mười bảy năm, khi đó chúng tôi mới học lớp Năm mà thầy thì mái tóc đã bạc phơ…                                                                                 B. Thầy thường đội mũ nồi, bộ râu mép rậm lấm tấm bạc, đôi giày cũ và chiếc cặp da nâu cũng đã sờn rách. 

C. Cũng chẳng bao giờ thầy bỏ một tiết lên lớp nào, kể cả những hôm thầy yếu mệt, sốt cao, giọng run run. 

D. Các cô giáo, thầy giáo trong trường kể rằng thầy là một trong những hoạ sĩ học khoá đầu tiên của Trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông Dương.

Câu 3. Các câu sau miêu tả đặc điểm nào của thầy giáo?

[…] Thầy ăn mặc theo kiểu xưa: bộ com-lê đen đã cũ lắm, nhưng chiếc ca-vát vẫn luôn thắt chỉnh tề trên cổ. Thầy thường đội mũ nồi, bộ râu mép rậm lấm tấm bạc, đôi giày cũ và chiếc cặp da nâu cũng đã sờn rách. 

A. Ngoại hình                                              B. Hành động

C. Lời nói                                                   D. Suy nghĩ

Câu 4. Dòng nào sau đây nhận xét đúng về thầy giáo dạy vẽ?

A. Ân cần, chu đáo với tất cả đồng nghiệp                       B. Giản dị, hiền hậu, tận tụy với nghề

C. Yêu thương, bao dung với học sinh                  D. Vừa là thầy giáo vừa là họa sĩ nổi tiếng

Câu 5. Điều thú vị mà thầy giáo dạy vẽ để lại cho nhân vật “tôi” và các bạn học sinh là gì?

A. Cách tô màu, cách đánh bóng và cả cách gọt bút chì thế nào cho đẹp và dễ vẽ

B. Thế giới rực rỡ, kì lạ của hội họa, màu sắc, đường nét qua câu chuyện thầy kể.

C. Những bức vẽ tự do về cảnh chùa và cảnh lao động mà thầy hướng dẫn.

D. Những bức tranh nhỏ vẽ rất tỉ mỉ những bình hoa nhiều màu, những ngôi nhà...

Câu 6. Dòng nào sau đây có chứa phó từ chỉ số lượng?

A. Tôi muốn kể với các em về thầy giáo dạy vẽ của tôi.

B. Thầy thường đội mũ nồi, bộ râu mép rậm lấm tấm bạc

C. Thầy luôn đăm chiêu nhưng hiền hậu.

D. Chẳng bao giờ thầy cáu giận, gắt gỏng với chúng tôi.

Câu 7. Hai câu văn sau sử dụng biện pháp tu từ nào?

Chẳng bao giờ thầy cáu giận, gắt gỏng với chúng tôi. Cũng chẳng bao giờ thầy bỏ một tiết lên lớp nào, kể cả những hôm thầy yếu mệt, sốt cao, giọng run run. 

A. So sánh                                                                 B. Ẩn dụ

C. Hoán dụ                                                                D. Điệp ngữ

Câu 8. Dòng nào sau đây có số từ chỉ số lượng?

A. Thầy dạy chúng tôi cách đây mười bảy năm

B. Khi đó chúng tôi mới học lớp Năm mà thầy thì mái tóc đã bạc phơ…

C. Nhưng thú vị hơn cả là những câu chuyện của thầy.

D. Thầy đưa chúng tôi xem những quyển sách của các bậc danh hoạ.

Câu 9. Thầy giáo dạy vẽ và thầy Đuy-sen trong đoạn trích “Người thầy đầu tiên” của nhà văn Ai-tơ-ma-tốp có điểm gì giống nhau?

Câu 10. Qua câu chuyện, em rút ra bài học gì?

PHẦN II. PHẦN VIẾT (4.0 điểm)

Viết bài văn phân tích đặc điểm của nhân vật thầy giáo dạy vẽ trong đoạn trích “Thầy giáo dạy vẽ của tôi” của tác giả Xuân Quỳnh.

-------------- HẾT -----------------

 

 

PHÒNG GD&ĐT...

TRƯỜNG THCS...

___________

ĐỀ CHÍNH THỨC – ĐỀ B

 

ĐỀ KIỂM TRA GIỮA KÌ I

NĂM HỌC 2022 – 2023

Môn: Ngữ văn 7

Thời gian làm bài: 90 phút (không kể thời gian phát đề)

Đề gồm có 02 trang

PHẦN I: PHẦN ĐỌC (6.0 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Con sáo của Hoàn

Đã từ lâu, Hoàn ao ước có một con chim sáo. […]

Bố đã hứa: chủ nhật tới sẽ đưa Hoàn lên nhà một người bán chim ở Nghi Tàm, mua cho em con sáo nào đẹp nhất mà em thích.

[…] Hai bố con lên xe. Hoàn vui sướng ôm lồng sáo ngồi sau. Con sáo mẹ vẫn bay theo, chốc chốc lại liệng xuống sát đầu Hoàn. Con sáo trong lồng cũng nhận ra mẹ. Nó hối hả kêu rối rít, nhảy lên đập cánh loạn xạ. Cái lồng run lật đật dưới tay Hoàn. Em cúi xuống, dỗ dành chú sáo non:

- Sáo à! Đừng sợ! Đừng theo mẹ nữa! Sáo về với anh thích lắm! Sáo muốn gì cũng được. Đừng theo mẹ nữa mà!

Mặc những lời âu yếm của Hoàn, con sáo con vẫn nghển cổ kêu tìm mẹ. […] Dỗ dành mãi không được, Hoàn im lặng bần thần. Con sáo con cố chui cánh ra khỏi lồng, cái đầu bé bỏng của nó đập mạnh vào những nan cứng, vài sợi lông rụng xuống vạt áo Hoàn.

Tới gần nhà, bố đỗ xe lại, hai bố con đi bộ vào ngõ. Dường như biết rằng sắp đến lúc phải xa hẳn con, sáo mẹ tuyệt vọng kêu lạc cả tiếng. Quên cả sợ, nó sà xuống đập phải chiếc xe đạp, lao xuống đất, cánh đập tung bụi cát. Sáo con vặn mình, cái mỏ vàng há ra run rẩy. Hoàn đứng im, đầu cúi xuống.

- Thế nào, ta vào nhà chứ! – Bố nhắc khẽ.

Hoàn cứ đứng lặng như thế mãi, rồi rụt rè nói:

- Bố ạ, hay là… hay là… ta thả con sáo ra…

- Con nói sao? – Bố ngạc nhiên. – Thả con sáo ra ư?

- Vâng. – Hoàn nói một cách khó nhọc. – Thả nó ra, kẻo tội bố ạ.

Im lặng một lát, em thở dài:

- Phải xa mẹ, nó chết mất…

[…]

- Thế thì con tự tay mở lồng cho sáo ra đi!

Hoàn cắn môi. Em nhìn lại con sáo yêu quý của em, rồi, như đã quyết, em quay mặt đi, đưa tay nhấc cái cửa lồng. Con sáo nhỏ lùi lại, ngơ ngác, rồi vội vã bay vút ra như một viên đạn. Con sáo mẹ lao đến, hai mẹ con bay chấp chới, quấn quýt rồi đậu lên một cành xoan cao. Sáo mẹ rối rít xỉa lông cho con, hai cái mỏ vàng lấp lánh dưới mặt trời.

Hoàn lặng lẽ nhìn lên. Em vẫn còn bàng hoàng, mắt nheo lại vì chói nắng.

(Xuân Quỳnh, Những truyện ngắn hay viết cho thiếu nhi, NXB Kim Đồng, 2014) 

Câu 1. Truyện kể theo ngôi thứ mấy? Người kể chuyện là ai?

A. Ngôi thứ nhất, người kể xưng “tôi”                B. Ngôi thứ nhất, người kể là tác giả

C. Ngôi thứ ba, người kể giấu mặt                    D. Ngôi thứ ba, người kể là Hoàn

Câu 2: Đề tài của truyện là gì?

A. Tình cha con                                             B. Tình yêu động vật

C. Tình thầy trò                                             D. Tình người

Câu 3. Tâm trạng của Hoàn sau khi được bố mua cho con chim sáo?

A. Sợ hãi, giận dữ                                                                 B. Buồn bã, đau khổ

C. Lo lắng, run rẩy                                                               D. Vui sướng, hạnh phúc

Câu 4. Chi tiết Hoàn cắn môi. Em nhìn lại con sáo yêu quý của em, rồi, như đã quyết, em quay mặt đi, đưa tay nhấc cái cửa lồng.” miêu tả đặc điểm gì của nhân vật?

A. Ngoại hình                 B. Hành động                 C. Lời nói             D. Suy nghĩ

Câu 5. Dòng nào sau đây không phải là lời của người kể chuyện?

A. Mặc những lời âu yếm của Hoàn, con sáo con vẫn nghển cổ kêu tìm mẹ.

B. Dường như biết rằng sắp đến lúc phải xa hẳn con, sáo mẹ tuyệt vọng kêu lạc cả tiếng.

C. Con sáo nhỏ lùi lại, ngơ ngác, rồi vội vã bay vút ra như một viên đạn.

D. Sáo về với anh thích lắm! Sáo muốn gì cũng được. Đừng theo mẹ nữa mà!

Câu 6. Nhân vật Hoàn làm em liên tưởng đến nhân vật nào sau đây?

A. Mon và Mên trong Bầy chim chìa vôi

B. An-tư-nai trong Người thầy đầu tiên

C. Nhân vật An trong Đi lấy mật (trích “Đất rừng phương Nam”)

D. Nhân vật người bố trong Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ.

Câu 7. Câu văn nào sau đây có phó từ bổ súng ý nghĩa về mức độ?

A. Đừng theo mẹ nữa mà!                                B. Sáo muốn gì cũng được.

C. Sáo về với anh thích lắm!                            D. Phải xa mẹ, nó chết mất…

Câu 8. Câu văn nào sau đây có số từ chỉ số lượng?

A. Hoàn vui sướng ôm lồng sáo ngồi sau.

B. Hoàn đứng im, đầu cúi xuống.

C. Em vẫn còn bàng hoàng, mắt nheo lại vì chói nắng.

D. Hoàn nói một cách khó nhọc.

Câu 9. Kết thúc câu chuyện, Hoàn đã có hành động như thế nào? Em có đồng ý với cách làm của Hoàn không? Vì sao?

Câu 10. Nêu ít nhất hai bài học em rút ra được từ văn bản trên.

PHẦN II. PHẦN VIẾT (4.0 điểm)

Viết bài văn phân tích đặc điểm của nhân vật Hoàn trong đoạn trích “Con sáo của Hoàn” của tác giả Xuân Quỳnh.

-------------- HẾT -----------------

 

 

PHÒNG GD&ĐT...

TRƯỜNG THCS...

HƯỚNG DẪN CHẤM BÀI KIỂM TRA GIỮA KÌ I

NĂM HỌC 2022 – 2023

MÔN : Ngữ Văn 7

 

Phần I: Đọc

ĐÁP ÁN

Điểm

 

Câu

1

2

3

4

5

6

7

8

Đề A

A

D

A

B

B

A

D

A

Đề B

C

C

D

B

D

A

C

D

4,0 đ

 

Câu 9: Học sinh có thể trả lời hướng vào các ý sau:

ĐỀ A: Điểm chung giữa hai người thầy

- Hiền hậu, bình dị (0,5đ)

- Yêu thương học sinh, tận tụy với nghề dạy học (0,5đ)

Đề B:

- Hoàn đã thả sáo con về với sáo mẹ (0,5đ)

- HS đồng tình hoặc không đồng tình và lý giải hợp lý (0,5đ)

Lưu ý: HS nêu được 02 ý trở lên thì đạt 1,0 điểm; nêu được 1 ý thì đạt 0,5 điểm

1,0 đ

 

Câu 10:

ĐỀ A:

- Luôn yêu quý, trân trọng các thầy cô giáo (0,5 đ)

- Mỗi thầy cô giáo là tấm gương để học sinh noi theo (0,5 đ)

ĐỀ B:

- Luôn biết yêu quý và trân trọng sự sống của các loài vật (0,5 đ)

- Yêu thiên nhiên là phải tôn trọng sự sống tự do của các loài (0,5 đ)

1,0 đ

 

Phần II:

Viết

 

 

 

Viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong tác phẩm văn học

Làm văn: Đây là dạng câu hỏi kiểm tra kiến thức và kĩ năng hình thành văn bản nên học sinh cần đảm bảo yêu cầu về hình thức bài văn; bố cục, kết cấu và diễn biến câu chuyện hợp lí, logic; đảm bảo các yêu cầu về diễn đạt, dùng từ, chính tả; biết kết hợp giữa ngôn ngữ kể chuyện và sử dụng các yếu tố miêu tả, biểu cảm một cách có hiệu quả;…

4,0

 

a) Đảm bảo yêu cầu về hình thức bài văn: Mở bài giới thiệu chung về nhân vật được phân tích, Thân bài nêu được đặc điểm của nhân vật và các bằng chứng từ tác phẩm, Kết bài khái quát ý nghĩa của hình tượng nhân vật

0,25

 

b) Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:

Đề A: nhân vật người thầy trong “Thầy giáo dạy vẽ của tôi” – Xuân Quỳnh

Đề B: nhân vật Hoàn trong “Con sáo của Hoàn” – Xuân Quỳnh.

0,5

 

c) Triển khai vấn đề nghị luận: Học sinh có thể có nhiều cách cảm nhận khác nhau, song cần khai thác được các hình ảnh, chi tiết nghệ thuật trong truyện để nêu được ý chính:

Đề A:

- Thầy giáo giản dị, khiêm tốn (cách ăn mặc, qua lời kể của đồng nghiệp)

- Thầy tận tụy với nghề dạy học (hành động của thầy khi dạy vẽ và truyền tình yêu hội họa cho học sinh)

- Nghệ thuật: ngôi kể thứ nhất, nhân vật được tái hiện qua ngoại hình, hành động, cử chỉ, lời nói và qua lời kể của nhân vật khác nên hiện lên chân thật, gần gũi.

- Ý nghĩa: hình tượng mẫu mực của một người thầy – rất bình dị nhưng cao quý, đáng kính

Đề B:

- Hoàn rất yêu con sáo (mong ước có sáo, niềm vui khi mua được sáo, sự dỗ dành khi con sáo đòi về với mẹ)

- Hoàn nhạy cảm, trân trọng sự sống của những loài vật (quyết định thả sáo khi quan sát sáo mẹ và sáo con)

- Nghệ thuật: ngôi kể thứ ba, nhân vật được kể qua hành động, cử chỉ, lời nói nên hiện lên sinh động, khách quan

- Ý nghĩa: yêu thiên nhiên là phải biết tôn trọng sự sống của các loài

2,5

 

d) Chính tả, dùng từ, đặt câu: đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt.

0,25

 

e) Sáng tạo: có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về ý nghĩa, tác dụng của câu chuyện.

0,5

 

* Lưu ý: Trên đây chỉ là những gợi ý mang tính định hướng chung. Giáo viên căn cứ vào những bài làm cụ thể của học sinh, linh hoạt chấm điểm cho phù hợp, khuyến khích những bài làm có tính sáng tạo.

 


Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn